Sau chiến tranh, đất nước phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng lương thực nghiêm trọng, một gánh nặng không hề nhỏ cho Chính phủ và người dân. Tình trạng ức hiếp, còng kẹp, và việc tập trung học tập để gò ép vào tập đoàn sản xuất đã dẫn đến những hậu quả nặng nề trong nông nghiệp. Các tập đoàn được thành lập vội vã vì sợ bị phê bình, dù thiếu nội dung và tổ chức, khiến nhiều nơi tình hình trở nên nghiêm trọng như đánh trói nông dân, bắt tập trung cải tạo.

Hệ quả là sản lượng lương thực Nhà nước huy động trong năm 1979 chỉ còn 1,45 triệu tấn, giảm sút nghiêm trọng so với 2,04 triệu tấn của năm 1976. Sản lượng lúa đầu người – thước đo trực tiếp cho nồi cơm của người dân – cũng giảm từ 211 kg/người vào năm 1976 xuống chỉ còn 157 kg/người vào năm 1980. Trong bối cảnh khó khăn này, không ít gia đình phải xoay sở với những vấn đề nhỏ nhất trong cuộc sống hàng ngày. chậu cây mini.

Bo Bo Cứu Đói – Khi Nguồn Lúa Gạo Cạn Kiệt

Nguyên Phó Thủ tướng Trần Phương trong hồi ký đã kể lại rằng nhiệm vụ nặng nhất của Chính phủ và người phụ trách lưu thông khi đó là “chạy gạo”. Nhu cầu gạo ăn và thóc giống mỗi năm cần phải đảm bảo tối thiểu 300kg thóc/đầu người. Dưới mức đó, đất nước phải “vác rá” đi xin viện trợ hoặc vay nợ để mua lương thực.

Chính vì tình hình lương thực nghiệt ngã như vậy, cơ cấu bữa ăn của người dân được đệm thêm đủ thứ như rau, khoai, và đặc biệt là bo bo. Loại lương thực này đã trở thành một nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với nhiều người Việt Nam thời bấy giờ, một ký ức về những tháng ngày gian khó. Tình trạng này đã tạo ra những câu chuyện sinh tồn kỳ lạ, như chuyện về loài cá có chân trong một hệ sinh thái đang vật lộn.

Bo Bo Thực Chất Là Lúa Miến Và Các Loại Hạt Nguyên Cám

Giáo sư Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, cho biết loại bo bo mà người dân Việt Nam từng phải nhai để sinh tồn còn được gọi là Lúa miến (sorghum).

Lúa miến (sorghum) – nỗi ám ảnh một thời đối với người dân VN với tên gọi bo bo – Ảnh tư liệu

Lúa miến (Sorghum): Đây là loại cây chịu hạn rất tốt, có vẻ ngoài rất giống cây bắp nhưng trổ thành chùm nhiều hạt nhỏ như hạt đậu ở phần ngọn. Hạt bo bo có vỏ rất cứng và không thể nấu ăn trực tiếp như cách người Việt nấu cơm gạo thông thường. Các nước như Liên Xô, Ấn Độ từng viện trợ và bán nợ bo bo cho Việt Nam làm lương thực.

Lúa mì (Wheat) và Lúa mạch (Barley): Ngoài lúa miến, người dân còn phải ăn độn lúa mì và lúa mạch nguyên hạt chưa xay, thường được gọi chung là bo bo. Theo GS. Mai Văn Quyền, từ thời chiến, miền Bắc đã nhập lúa mì nguyên hạt từ Liên Xô về làm lương thực tạm. Để làm thực phẩm cho người, lúa mì phải qua xay xát, thải cám và lên men thành bột mì, nhưng nhiều đợt Việt Nam không có điều kiện chế biến kịp nên đưa thẳng đến người dân. Nhiều người dân tự giã làm bột nhưng vẫn dai cứng do không lên men được. Lúa mì nhập thời kỳ ấy có phẩm cấp thấp, lại bị suy giảm thêm trong khâu vận chuyển nên thành “miếng khổ nhớ đời”.

Riêng lúa mạch (barley) chủ yếu dùng trong công nghiệp chế biến rượu bia, thức ăn gia súc. Nó không được làm thức ăn trực tiếp như gạo nấu cơm. Việc phải dùng lúa mạch nguyên hạt trong bữa ăn hàng ngày là minh chứng rõ ràng nhất cho tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng.

Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ sinh học và nông nghiệp, chúng ta có nhiều cách tối ưu hóa sản xuất thực phẩm, thậm chí là các sản phẩm như cây thủy sinh trong nhà có thể được chăm sóc dễ dàng hơn. Trong khi đó, việc chế biến các loại hạt như bo bo đòi hỏi sự tỉ mỉ, đôi khi cần dùng đến các phương pháp phức tạp như lên men vi sinh.

Nỗ Lực Trồng Trọt và Những Ký Ức Đau Đá

Miền Nam từng đưa hạt giống bo bo về trồng thử nghiệm ở Cần Thơ và Bình Đức, An Giang vào năm 1972 trong chương trình đa canh hóa, theo lời kể của GS. Võ Tòng Xuân. Sản lượng đạt khoảng 3-4 tấn/ha qua ba tháng. Sau 1975, bo bo tiếp tục được trồng trong chương trình mở rộng nguồn lương thực nhưng không thể phát triển đại trà vì bị người dân chê khó ăn, năng suất kém.

Bo bo đã đi vào ký ức của rất nhiều người. Bà Trần Thị Minh Thu, vợ GS. Nguyễn Văn Luật, kể lại rằng với tem phiếu giáo viên, bà được mua 13kg lương thực, có đợt nhận một nửa gạo, một nửa bo bo, thậm chí có đợt toàn bo bo. “Hồi ấy đói khủng khiếp. Những nhà không có tem phiếu càng đói gay gắt,” bà chia sẻ. Con bà mới 5 tuổi cũng phải nhai bo bo cứng ngắc, nên nhà lúc nào cũng lộp cộp tiếng giã bo bo trong cối giã cua. Thậm chí, bo bo còn bị trộm cắp vì người ta quá đói. Việc bảo quản và chế biến thực phẩm thời đó rất gian nan, không có những giải pháp hỗ trợ dinh dưỡng tiên tiến như men vi sinh cho ca dobio hiện nay.

Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Nguyễn Nhật Tân kể lại sự căng thẳng của Chính phủ trong việc xoay xở. Tàu vận chuyển vừa về cảng Hải Phòng hay TP.HCM là phải nhanh chóng bốc dỡ, đưa vào hệ thống phân phối. Có giai đoạn việc dỡ hàng bị chậm trễ trong lúc dân thiếu đói gay gắt, buộc các lãnh đạo như ông Đỗ Mười, Đinh Đức Thiện phải xuống giải tỏa bằng kỷ luật quân đội. Nạn ăn cắp cũng bùng nổ, công nhân quá khổ không trộm được nguyên bao thì dùng ống sắt, ống trúc chọc thủng bao bo bo, gạo cho chảy vào túi mình.

Ông Hải (nhân viên Sở Ngoại vụ TP.HCM) với thùng sắt đựng bo bo được giữ làm kỷ niệm: “Bo bo ăn thế nào ra thế đấy, nhưng nó đã cứu đói gia đình tôi” – Ảnh: Q.V.

Kết Luận – Lịch Sử Không Thể Lãng Quên

Ký ức về bo bo là một phần không thể xóa nhòa trong lịch sử Việt Nam, là hình ảnh của một thời kỳ bao cấp đầy gian khổ, khi đất nước phải chạy vạy vay mượn lương thực nước ngoài. Nó dạy cho thế hệ ngày nay về giá trị của hạt gạo, về sự trân trọng đối với nền nông nghiệp và sự ổn định của nguồn cung lương thực. Mặc dù là một ký ức đau đá, bo bo vẫn được ghi nhận là “miếng khổ” đã cứu đói hàng triệu người, giúp họ kiên cường vượt qua những năm tháng khó khăn để chứng kiến đất nước vươn lên. Ký ức về những ngày tháng đó vẫn còn đọng lại trong nhiều câu chuyện và lời ca, giống như câu chuyện về một loài cá đòng đong nhỏ bé nhưng kiên cường.

Khó có thể tưởng tượng một đất nước ngày nay là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới mà thời ấy phải chật vật chạy vạy từng tấn lương thực. Từ những ký ức “bo bo” này, chúng ta càng thêm tự hào về nghị lực và sự đổi thay kỳ diệu của dân tộc.


Tài liệu tham khảo

  • Báo Tuổi Trẻ Online, Gạo vào bếp dân, Khi VN vay gạo Indo, mượn lúa mì Ấn Độ.
  • Hồi ký của nguyên Phó Thủ tướng Trần Phương.
  • Phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Văn Luật, Giáo sư Mai Văn Quyền, Giáo sư Võ Tòng Xuân, Thứ trưởng Nguyễn Nhật Tân.

Để lại một bình luận